Bài thuốc “Hoắc hương chính khí” điều trị nhiều bệnh

Bài thuốc Hoắc hương chính khí điều trị nhiều bệnh

Bài thuốc “Hoắc hương chính khí ” là một phương pháp điều trị, một bài thuốc tại nhà đối với khí và tỳ vị yếu. Các bệnh do cảm nhiễm thời tà hay rối loạn trung tiêu tỳ vị. Người bệnh thường có các triệu chứng sau: sốt, sợ lạnh, nặng đầu, yếu tay chân, tức ngực, bị nhạt miệng và đôi khi nôn; đau bụng, thỉnh thoảng tiêu chảy, mạch nhu, rêu lưỡi dày nhớt. Từ xa xưa, các bậc thầy về đông y đã đánh giá cao công dụng chữa bệnh của loại thảo dược này và có cách sử dụng tốt nhất. Để hiểu thêm về đặc điểm, công dụng và cách uống, đặc biệt là các bài thuốc hay. Hãy cùng norfis.com khám phá trong bài viết sau đây.

Tìm hiểu thêm về cây hoắc hương

Tìm hiểu thêm về cây hoắc hương
Tìm hiểu thêm về cây hoắc hương

Dù xuất hiện khá phổ biến trong tự nhiên nhưng vẫn có không ít người dùng biết đến sự tồn tại của cây thuốc hoắc hương. Một số thông tin về cây thuốc quý này như sau:

  • Tên gọi khác trong dân gian: Thổ hoắc hương, quảng hoắc hương,…
  • Danh pháp khoa học: Pogos cablin (Blanco) Benth
  • Thuộc họ: Bạc hà (Lamiaceae)

Đặc điểm thực vật

Cây hoắc hương thường bị nhiều người nhầm lẫn với nhiều loài cây khác có đặc điểm tương đồng. Để phân biệt chính xác loài cây này có thể tham khảo những đặc điểm nổi bật dưới đây:

  • Hoắc hương là loài cây thân thảo, sống lâu năm, cao chừng 30 – 60cm. Thân cây hình vuông, màu nâu tím, có lớp lông nhỏ mịn, phân thành nhiều nhánh khoảng 40 – 50cm, đường kính từ 2 – 7mm. Khi già, thân cây sẽ có nhiều lớp bần bám xung quanh, màu nâu xám.
  • Lá cây mọc đối xứng với nhau, rộng khoảng 3 – 7cm, dài 4 – 9cm, cả hai mặt đều có lớp lông mịn phủ kín. Mỗi phiến lá có hình elip, phần mép có răng cưa, chóp lá hơi nhọn hoặc tròn.
  • Hoa hoắc hương mọc thành từng cụm dài ở phần ngọn hoặc nách lá, có màu hồng hoặc tím nhạt, thường nở rộ vào khoảng tháng 5 – 6 hàng năm.
  • Mùi hoắc hương rất đặc trưng, thơm nồng, đặc biệt là phần lá cây.
  • Toàn thân cây hoắc hương có mùi thơm nổi bật đặc biệt là bộ phận lá cây.

Thu hái và bào chế thuốc

Theo các tài liệu dược liệu, toàn cây hoắc hương đều có dược tính cao, ngoại trừ phần rễ. Vì vậy khi thu hái cần cắt toàn bộ dược liệu trên bề mặt đất. Thời điểm thu hái thích hợp nhất là vào mùa hè, khi cây phát triển tươi tốt nhất.

Sau khi cắt, người dùng có thể dùng tươi hoặc phơi, sấy khô dược liệu trực tiếp dưới nắng đến khi khô hoàn toàn để sử dụng lâu dài. Dược liệu khô thu được cần bảo quản trong các lọ, túi bóng kín, tránh ẩm ướt, nấm mốc gây hại. Bên cạnh đó, hoắc hương sau khi phơi khô có thể tán thành bột mịn để dùng hoặc làm hoàng tán hoặc chiết xuất tinh dầu.

Tác dụng của hoắc hương

Tác dụng của hoắc hương
Tác dụng của hoắc hương

Trong y học cổ truyền hoắc hương vị ngọt đắng, hơi cay, tính ấm mùi thơm đặc trưng vào 3 kinh Phế, Tỳ, Vị; có tác dụng giải cảm, sát khuẩn, chống nôn, giảm đau. Chủ trị chứng cảm thử thấp, hàn nhiệt, đau đầu, tức ngực, kiết lỵ, hơi thở hôi.

Theo kết quả báo cáo của y học hiện đại trong hoắc hương với thành phần chủ yếu chứa tinh dầu có tác dụng kháng khuẩn, ức chế vi khuẩn gây bệnh, hỗ trợ điều trị bệnh đường tiêu hóa.

Bài thuốc hoắc hương chính khí

Hoắc hương 12g, đại phúc bì 12g, phục linh 12g, bán hạ chế 12g, đại táo 12g, trần bì 6g, bạch chỉ 8g, tía tô 8g, hậu phác 8g, cát cánh 8g, sinh khương 4g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

Bột “Hoắc hương chính khí”: Hoắc hương 15g, tía tô 10g, thương truật 8g, trần bì 5g, cam thảo 3g, đại táo 4 quả, phục linh 6g, hậu phác 3g. Uống mỗi lần 8g, ngày 3 lần

Bài thuốc dân gian từ hoắc hương

Trị cảm nắng, tiêu hóa kém: Hoắc hương, trần bì mỗi vị 20g. Sắc uống.

Trị hôi miệng: Lá hoắc hương tươi hoặc khô rửa sạch. Sắc kỹ, xúc miệng hàng ngày

Trị đầy bụng, ăn không tiêu : Hoắc hương 12g, thạch xương bồ 12g, hoa đại 12g, vỏ bưởi đào (sao kỹ) 6g. Tất cả tán bột mịn trộn đều. Mỗi lần uống 2g với nước ấm trước bữa ăn. Ngày uống 3 lần.

Trị cảm nóng, sốt rét, đau bụng, tiêu chảy cấp : Hoắc hương 120g, hương phụ 100g, lá sung 120g, nam mộc hương 120g, ngũ gia bì 80g, lá gắm 80g, long đởm thảo 40g, bách thảo sương 40g, hạt cau 40g, thương truật 40g, can khương 10g.

Tất cả thái nhỏ, phơi hoặc sấy khô, tán bột mịn, hoàn viên. Mỗi lần uống 3-5g. Dùng nước sắc gừng và hành để chiêu thuốc trị sốt rét cơn, cảm nóng lạnh; Hòa thuốc với nước cơm hoặc nước ấm trị đau bụng, tiêu chảy cấp ( Hải thượng Lãn Ông) .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Xin đừng copy em :)